ĐỂ LÀ CUỘC HÔN NHÂN HẢO HỢP


Đám cưới và những nghi thức đám cưới luôn là vấn đề được quan tâm vì chuyện hôn nhân, đám cưới không chỉ là chuyện của đôi bạn trẻ mà còn là chuyện của cả gia đình, dòng tộc. Để có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, hảo hợp đòi hỏi hai gia đình, hai dòng tộc cần thông cảm, thấu hiểu cho nhau.


Hôn nhân là chuyện trọng đại ở đời. Quy luật bất biến của vũ trụ đòi hỏi con người lớn lên phải thành gia thất (trừ những trường hợp khả dĩ). Đối với các bạn trẻ, hôn nhân là bước ngoặc đánh dấu mốc quan trọng trong đời, kể từ đó họ đã khoác lên mình trách nhiệm của một công dân hoàn thiện trong xã hội, đó là vai trò người chồng hay vợ, cha hay mẹ trong gia đình. Còn đối với các bậc làm cha mẹ, cuộc hôn nhân viên mãn của con cái là niềm hạnh phúc và vinh dự lớn lao, nó cũng đánh dấu bố mẹ hoàn thành nghĩa vụ cao cả của mình là sinh thành dưỡng dục và lo cho con cái yên bề gia thất.
Trong đám cưới, người ta thường chúc đôi uyên ương “trăm năm hạnh phúc”, “bách niên hảo hợp”, “bách niên giai lão”. Nói chung luôn hướng tới sự hòa hợp và hạnh phúc lứa đôi, một nguyện vọng chính đáng, cao đẹp của muôn người. Chữ Hảo 好 trong văn tự Việt Nam cổ (tiếng Hán) có hai bộ phận, gồm bộ nữ 女 (chỉ người phụ nữ) và bộ tử 子(chỉ người con trai), nghĩa là sự hòa hợp đôi đứa. Chữ hợp 合 cũng ngụ ý cả nhà chung một lời nói (bộ nhân 人ở trên ngụ ý con người (ở đây là vợ chồng, hai bên thân gia), bộ nhất 一 ở giữa và bộ khẩu 口chỉ một tiếng nói chung). Trên các giấy tờ ngày trước, người ta ghi là “giá thú”, “giá” là gả, còn “thú” là cưới, vậy nên hôn nhân là chuyện hài hòa hai bên gia đình.

Đám cưới là sự kiện trọng đại, Song Hỷ của cả hai gia đình
Ngày trước, hôn nhân bị chế định bởi tư tưởng Nho giáo, thúc ước bằng các quan niệm trọng nam khinh nữ cùng với các mối quan hệ luân thường đạo lý chặt chẽ, do vậy thường rất phức tạp và có quy củ. Một đám cưới xưa thường có 6 lễ, gồm Lễ nạp thái (kén chọn), Lễ vấn danh (hỏi tên tuổi cô dâu), Lễ nạp cát (xem tuổi), Lễ nạp tệ (ăn hỏi), Lễ thỉnh kỳ (xin cưới) và Lễ thân nghênh (đón dâu), mỗi nghi lễ đều được tiến hành khá nghiêm túc. Sự thúc ước ấy hằng có ý nghĩa để đôi vợ chồng trẻ và hai bên gia đình trân trọng niềm hạnh phúc lứa đôi. Dù vậy, do những hà khắc của các quan niệm môn đăng hộ đối, nhiều đôi lứa yêu nhau đành mãi chia tay. Dân gian Bắc Bộ vẫn thường nhắc nhau sự bất hạnh của đôi tình nhân Phạm Công – Cúc Hoa, còn trong vở Lan và Điệp hay Tô Ánh Nguyệt của sân khấu Nam Bộ, sự hà khắc ấy của lễ giáo cũ đã bị lên án mạnh mẽ, những đau khổ của sự tan vỡ và hệ lụy của nó dai dẳng tồn tại đến những thế hệ mai sau. Người đời vẫn thường được nghe kể về Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, về Romeo và Julliet, vẫn thường rung động trước những mối tình éo le do chính gia đình gây nên.
Theo quan niệm truyền thống, việc kén vợ kén chồng rất quan trọng. Người Việt có kinh nghiệm “lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”. Khi lấy vợ – gả chồng cho con, các bậc cha mẹ thường chú ý đến đức hạnh, sự hợp tuổi, gia phong của cả gia đình hai bên. Trước hôn nhân thường có tục coi tuổi để kiểm tra Tam hợp – Tứ xung.
Đến đầu thế kỷ 20, trước những biến đổi sâu sắc của xã hội và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, lục lễ khi xưa giờ còn 3 lễ chính gồm (1) dạm ngõ, (2) lễ hỏi, và (3) lễ cưới
Việt Nam tuy là quốc gia nhỏ, song lại có không gian phân bố dài từ Bắc chí Nam gần 2000 km. Tuy người Việt Nam có cùng một hệ tư tưởng truyền thống, cùng một tâm thức dân tộc song do những điều kiện tự nhiên như phong thổ địa lý cũng như hoàn cảnh lịch sử – xã hội khác biệt nhau đã tạo nên những dị biệt trong văn hóa, trong đó có phong tục.
Người Bắc Bộ có xu hướng gìn giữ những nghi thức, quan niệm truyền thống và thường rất chỉnh chu trong hôn nhân. Chính vì thế, quan niệm “lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”, hay “môn đăng hộ đối” vẫn khắt khe. Trong khi đó, tại Nam Bộ quá trình các lưu dân Bắc Bộ và vùng Ngũ Quảng vào khai khẩn vùng đất này 300 năm về trước đã tạo cơ sở định hình một phong cách văn hóa mang xu hướng đơn giản hóa các nghi thức truyền thống. Thêm vào đó, quá trình tiếp xúc với văn minh phương Tây sớm hơn và với cường độ mạnh hơn ở Nam Bộ đã khiến cư dân vùng đất này coi trọng sự tiện nghi, coi trọng tiêu chính nhanh – gọn – lẹ, kể cả trong phong tục hôn nhân.

Trao lễ vật trong cưới hỏi người Nam Bộ.
Trong lễ vật hôn nhân, người Bắc Bộ thường quy định số chủng loại và số lượng lễ vật cụ thể, ngoài rượu, trầu cau, mâm đèn còn có một mâm xôi gà, một mâm bánh cốm xanh hoặc bánh su sê (100 cái), một mâm trà và bánh khảo (bánh in), mâm trái cây thuộc các màu vàng, đỏ, xanh (màu tốt theo ngũ hành).. Khi đi rước dâu bằng xe, trầu cau không được đặt sẵn vào quả và mang lên xe, mà thường phải có người mang đi bằng xe máy, khi đến nhà gái mới sắp vào mâm quả. Tập tục này xuất phát từ niềm tin mong muốn tình cảm vợ chồng sau này không bị “dằn xóc” như mâm trầu cau nếu mang lên xe. Thêm vào đó, mẹ chồng thường không đi đón dâu, mà ở nhà để chuẩn bị trao truyền thống nội trợ cho con dâu mới. Những người đi đón dâu phải đúng cặp vợ chồng (đối với người đã lập gia đình), gia đạo phải thuận hòa, hạnh phúc để tạo phúc lành cho đôi uyên ương.

Mâm quả miền Bắc.
Trong khi đó ở Nam Bộ chỉ quy định số mâm (thường là 6 mâm, có nơi là 8, 10), trong đó không thể thiếu trà-rượu, mâm đèn, còn lại là bánh và trái cây. Một số vùng thì chuộng bánh thèo lèo, một số nơi khác là bánh cốm (bỏng), thế nhưng thường không câu nệ cụ thể là bánh gì, miễn sao là số chẵn. Các loại trái cây thường là loại có sẵn ở địa phương như quýt vàng, nhãn, thanh long… miễn tên gọi gợi lên niềm may mắn. Cả bố mẹ chồng đều đi đón dâu, thành phần đi đón dâu cũng không câu nệ miễn sao số lượng chẵn là được.
Như thế ta có thể thấy, dù là cư dân Bắc Bộ hay Nam Bộ thì đều hướng đến sự hài hòa hai bên thân gia, sự hòa hợp – hạnh phúc lứa đôi và sinh sôi nảy nở, chỉ có điều hình thức thể hiện có thể sẽ khác nhau theo đặc trưng từng vùng. Sự khác biệt ấy về hình thức chỉ là yếu tố ngoại tại, sự giống nhau về ước vọng hòa hợp, hạnh phúc và sinh sôi nảy nở luôn tồn tại dù ở đâu trên bản đồ hình chữ S này.

Mâm quả trong đám cưới miền Nam.
Trong trường hợp hôn nhân giữa đôi tình nhân đến từ hai đầu đất nước, sự hài hòa phải bắt đầu từ hai phía. Sẽ không có công thức chung nào cụ thể mà chỉ cần hai bên thân gia hiểu và thông cảm cho nhau, rằng đằng sau những nghi thức đa dạng ấy là sự đồng nhất về tư tưởng. Xưa nhà gái thách cưới quần là áo lụa, vàng thoi bạc nén, nay tục ấy không còn, cả hai bên cùng vun vén cho gia đình hạnh phúc, ấy là cùng suy nghĩ về tương lai của các con. Do vậy hai bên thân gia phải gạt bỏ những khác biệt, cùng hướng về sự hài hòa để ban phúc lành cho đôi lứa.
Dù Bắc hay Nam, dù nông thôn hay thành thị, chúng ta phải biết gạt bỏ những tham vọng đơn phương hay cá nhân. Một số gia đình nhà trai (đa phần là mẹ chồng) thực hiện những hành vi lạ lẫm, chẳng hạn treo lủng lẳng chiếc quần cũ nát của con trai mình bên trong phòng tân hôn để bắt con dâu phải chui qua, ngụ ý con dâu luôn phải phục tùng chồng. Bên nhà gái cũng không kém phần mưu chước. Ngày rước dâu, bà cô, bà dì thậm chí là mẹ đẻ cô dâu ghé vào tai để dặn dò con gái “khi rước dâu đến nhà chồng, con phải bước dài hơn chồng để đặt chân vào nhà trước, sau này sẽ nắm quyền hành!”, hoặc giả “đêm tân hôn phải móc áo cô dâu choàng lên áo chú rể để giành phần hơn”, “phải tìm cách ngồi lên chiếc gối của chồng”… Tất cả những hành vi ấy có đạt được mong muốn hay không ai cũng có thể trả lời, song cái đọng lại đằng sau nó là sự hiềm khích, sự tham vọng, sự đòi hỏi quyền lợi trước đối phương cần phải loại bỏ. Thương nhau là cùng hướng về nhau chứ không phải phấn đấu để mình hơn đối phương.

Đám cưới miền Tây
Ngoài sự hòa hợp các phong tục vùng miền còn có sự hài hòa phong tục giữa các tộc người với nhau, chẳng hạn các cuộc hôn nhân liên tộc như Việt-Tày, Việt-Thái, Việt-Hoa, Việt-Khmer.. Lấy ví dụ về một đám cưới giữa chú rể người Việt và cô dâu người Hoa tại Nam Bộ. Gia đình chú rể theo tục người Việt soạn 6 mâm lễ gồm trà-rượu, mâm đèn, bánh, trái cây, song theo phong tục người Hoa thường có thêm mâm thịt lợn, mâm thèo lèo, mâm bánh ú… thành 12 mâm cho đủ lễ. Sau khi thỏa thuận, gia đình nhà gái đã chuẩn bị thêm 6 mâm để khi ra mắt họ hàng nhà gái, lễ vẫn đủ. Hai bên thông gia vui vẻ, đề huề. Lại nữa, chú rể người Việt thật sự lúng túng khi phải tự tay băm nát bó cải xanh và vứt tung tóe trước cửa nhà bố mẹ vợ người Hoa trước khi rước dâu về. Khi hỏi thì được giải thích hành động ấy mang ý nghĩa cầu phát tài (ném tung tóe cải: phát thái, gần âm với phát tài). Ngoài ra còn có cách hiểu khác, rằng cải và cãi gần âm, khi đi rước dâu đã “băm nát bó cải”, sau này “sẽ không cãi nhau nữa”. Âu cũng là những ước vọng tốt đẹp mà gia đình nhà gái lựa chọn. Sự thông hiểu nhau, thông cảm và suy nghĩ vì nhau sẽ làm nền tảng tốt đẹp cho một gia đình mới được hạnh phúc, hòa hợp.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét